qc_banner_ductan_999x250

Fort Power

MÁY FORT POWER INOX 304 SIÊU BỀN

20729425_1413827592004342_8863685912878963206_n.jpg

Máy Nước Nóng Fort Power

20799095_1413827688670999_6257727567802739509_n.jpg

 

 

CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG CAO CẤP

399120_392751727411535_1201620244_n.jpg

CÔNG TRÌNH NHÀ Ở DÂN DỤNG

bs_1cn.png

Bình nước nóng năng lượng mặt trời FORT POWER tách rời

may cong nghiep.jpg

                                                              Website: http://vesboductan.com

Bình nước nóng năng lượng mặt trời USolar tách rời có cấu tạo ống hấp thu năng lượng mặt trời nằm riêng rẽ và đầu ống không gắn trực tiếp vào bình bảo ôn.
Dòng sản phẩm này sử dụng hai dàn ống hấp thụ năng lượng thuỷ tinh chân không nằm ngang, đầu mỗi dàn ống được gắn với ống góp. Ống góp có 2 đầu, trong đó đầu dưới của ống góp được nối với đáy của bình bảo ôn để cấp nước lạnh từ bình bảo ôn cho dàn ống hấp thụ năng lượng mặt trời. Đầu trên của ống góp được nối với thân bình bảo ôn nhằm thu hồi nước được làm nóng trong dàn ống hấp thụ do bức xạ mặt trời tuần hoàn về lại bình bảo ôn, nhờ đó nước lạnh chứa trong bình được làm nóng.

Nguyên lý hoạt động của bình nước nóng năng lượng mặt trời

FORT POWER tách rời được mô phỏng trong sơ đồ sau:

Dưới đây là bảng thông số kỹ thuật các loại bình nước nóng năng lượng mặt trời MATSUNO® dạng tách rời hiện đang được ĐỨC TÂN CO..LTD. phân phối tại thị trường Việt Nam:

 

Mã sản phẩm

TF-50/1.5G 

TF40/1.8G 

TF48/1.8G 

Phạm vi sử dụng (Người) 

10~12 

10~12 

13~15 

 

Dàn hấp thụ năng lượng

mặt trời 

Ống hấp thụ thủy tinh chân khôngΦ47x1500  

 

Ống hấp thụ thủy tinh chân khôngΦ58x1800  

Số lượng ống 

50 

40 

48 

¸Áp lực hệ thống 

Áp lực thử nghiệm: 0.1 MPa       Áp lực làm việc: 0 MPa 

Diện tích dàn hấp thụ(m²) 

6.00 

6.00 

6.60 

Hiệu suất trong ngày

>65% (>52% vào mùa đông) 

Dung tích bình bảo ôn (Lít) 

400

400

500

Diện tích lắp đặt dàn hấp thụ (D x R mm)

2820x1815

3740x1630

3740x1930

 

 

           

 

Lịch sử máy nước nóng năng lượng mặt trời FORT POWER

20139651_1393590790694689_2909676690208763465_n.jpg

 Lịch sử

Có những ghi chép về tấm collector thu năng lượng mặt trời ở Hoa Kỳ từ trước năm 1900, bao gồm một thùng sơn màu đen đặt trên mái nhà. 
Năm 1896, Clarence Kemp của Baltimore, Mỹ kèm theo tấm collector là một bồn chứa trong một hộp bằng gỗ, tạo nước nóng hàng loạt được sản xuất đầu tiên và được biết đến như ngày hôm nay. Mặc dù tấm phẳng thu năng lượng mặt trời để sưởi ấm nước đã được sử dụng tại Florida và miền Nam California vào những năm 1920, đã có một sự quan tâm đột biến về nhiệt năng lượng mặt trời ở Bắc Mỹ sau năm 1960, nhưng đặc biệt sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973.

Năng lượng mặt trời tại Israel

Các hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời tấm phẳng lọai thụ động (thermosiphon) được hoàn thiện và được sử dụng trên một quy mô rất lớn tại Israel. Trong những năm 1950 đã có một sự thiếu hụt nhiên liệu trong nhà nước Israel mới, và chính phủ đã cấm đốt nóng nước từ 10:00 chiều đến 06:00 sáng. Levi Yissar xây dựng các lò sưởi nguyên mẫu đầu tiên của Israel bằng nước năng lượng mặt trời và năm 1953 ông cho ra mắt Công ty NerYah, công ty đầu tiên của Israel sản xuất kinh doanh hệ thống làm nóng nước năng lượng mặt trời. Mặc dù có sự phong phú của ánh sáng mặt trời tại Israel, máy nước nóng năng lượng mặt trời đã được sử dụng chỉ 20% dân số của năm 1967. Sau cuộc khủng hoảng năng lượng trong những năm 1970, trong năm 1980, Knesset Israel đã thông qua một luật yêu cầu việc lắp đặt máy nước nóng năng lượng mặt trời trong tất cả các ngôi nhà mới (ngoại trừ tháp cao với diện tích mái nhà không đủ). Kết quả là, Israel hiện dẫn đầu thế giới trong việc sử dụng năng lượng mặt trời tính trên đầu người, 85% các hộ gia đình hiện nay sử dụng hệ thống nhiệt năng lượng mặt trời (3% mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp quốc gia), ước tính tiết kiệm cho nhà nước hai triệu thùng dầu một năm, cao nhất bình quân đầu người sử dụng năng lượng mặt trời trên thế giới. 

Năng lượng mặt trời tại các nước khác
Nước nóng năng lượng mặt trời mới được sử dụng rộng rãi trên tòan thế giới từ năm 2007.
Thế giới thấy một sự tăng trưởng nhanh chóng của việc sử dụng nước nóng năng lượng mặt trời sau năm 1960, với các hệ thống đang được bán trên thị trường và được đổi mới kỹ thuật, cải thiện hiệu năng, tuổi thọ và tính dễ sử dụng. Lắp đặt nước nóng năng lượng mặt trời đã trở thành tiêu chuẩn trong một số nước có nguồn bức xạ mặt trời phong phú, như Địa Trung Hải, Nhật Bản, Áo, Colombia, nơi phát triển một nước công nghiệp năng lượng mặt trời sưởi ấm nhờ vào thiết kế của Las Gaviotas, đạo diễn Paolo Lugari. Thúc đẩy bởi mong muốn giảm chi phí trong nhà ở xã hội, nhóm của Gaviotas nghiên cứu các hệ thống tốt nhất từ ​​Israel, và làm thích nghi để đáp ứng các quy định của Trung ương Banco Hipotecario (BCH) trong đó quy định rằng hệ thống phải được hoạt động trong các thành phố như Bogotá, nơi có hơn 200 ngày u ám. Các mẫu thiết kế cuối cùng đã thành công đến nỗi Las Gaviotas được cung cấp vào năm 1984 được bảo hành 25 năm trên bất kỳ các sự lắp đặt của nó. Trên 40.000 máy đã được lắp đặt, và vẫn còn họat động một phần tư thế kỷ sau đó.
Trong năm 2005, Tây Ban Nha trở thành nước đầu tiên trên thế giới yêu cầu lắp đặt quang điện trong các tòa nhà mới, và lần thứ hai (sau khi Israel) yêu cầu việc lắp đặt hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời vào năm 2006. Australia có nhiều ưu đãi từ quốc gia và các quy định nhà nước cho nhiệt lượng mặt trời bắt đầu với MRET giới thiệu vào năm 1997. Hệ thống sưởi ấm nước mặt trời đã trở nên phổ biến ở Trung Quốc, nơi mà các mô hình cơ bản bắt đầu từ khoảng 1.500 nhân dân tệ (US $ 190), rẻ hơn nhiều so với các nước phương Tây (khoảng 80% rẻ hơn so với cùng kích thước thu nhiệt). Người ta nói rằng ít nhất 30 triệu hộ gia đình người Trung Quốc bây giờ sử dụng nước nóng năng lượng mặt trời, và sự phổ biến đó là do các ống thu nhiệt hiệu quả cho cả dưới bầu trời xám và ở nhiệt độ âm. Israel và Cyprus là mỗi nhà lãnh đạo đầu trong việc sử dụng nước mặt trời sưởi ấm hệ thống với hơn 30% -40% hộ gia đình sử dụng. 

Xem Phụ lục cho một số số liệu thống kê quốc gia cụ thể "Sử dụng năng lượng mặt trời làm nóng nước trên toàn thế giới"  ở Trung Quốc, Đức, Ấn Độ, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Úc, Canada, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Romania, Tây Ban Nha, Anh Quốc và Hoa Kỳ.

 

Tại Việt Nam, sự xuất hiện của máy nước nóng năng lượng Mặt Trời tuy muộn nhưng đúng thời điểm và được coi là một trong những giải pháp tiết kiệm hàng đầu trong đầu tư. 

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, máy nước nóng năng lượng Mặt Trời nói riêng và các thiết bị dùng năng lượng Mặt Trời nói chung đã nhen nhóm xuất hiện tại Việt Nam nhưng mới chỉ ở dạng nghiên cứu của các trường đại học hoặc viện nghiên cứu. 

Đến đầu năm 2000, máy nước nóng năng lượng Mặt Trời đã có hình thức thương mại nhưng đa phần nhập ngoại như FORT POWER../.

 

 

V. TIỆN ÍCH KHI SỬ DỤNG MY NƯỚC NÓNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI FORT POWER

pd.jpg

- Các lắp đặt đơn giản, đảm bảo an tồn tuyệt đối cho người sử dụng, giúp loại bỏ các mối lo ngại về việc rò rỉ điện, hay quên khóa van an toàn (gas)…

- FORT POWER Ống thủy tinh thu nhiệt chân không có kích thước gọn nhẹ, chất lượng cao, lượng dung nén nhiệt năng lớn, vì thế có thể sử dụng bình thường khi thời tiết mưa, mưa kéo dài 2- 3 ngày.

-FORT POWER Bình chứa nước l loại bình bảo ôn được thiết kế đặc biệt đảm bảo giữ được nước nóng tới 72 giờ.

- FORT POWERSử dụng nguồn năng lượng mặt trời biến quang năng thành nhiệt năng nên nước được đun nóng liên tục đảm bảo cung cấp đủ cho nhu cầu sử dụng nước nóng hằng ngày.

- Máy chỉ sử dụng năng lượng mặt trời FORT POWERnên giúp bạn tiết kiệm hiệu quả chi phí điện, và hoàn toàn thân thiện với môi trường do không phát sinh ra chất thải, không gâyra tiếng ồn và không làm ô nhiễm môi trường. Máy nước nóng năng lượng mặt trời FORT POWER có tính năng thẩm mỹ cao, với nhiều dung tích và chất liệu khác nhau, giúp cho bạn sự lựa chọn tối ưu nhất phù hợp với điều kiện thực tế và tôn thêm vẻ đẹp và tính tiện nghi vốn có của ngôi nhà bạn.

NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG FORT POWER

20081028144059_nlhd1.gif

Khi ánh sáng chiếu vào bộ phận thu nhiệt, các ống thủy tinh chân không với tính năng hấp thụ nhiệt cao, tỷ lệ phát xạ thấp sẽ hấp thụ bức xạ ánh sáng mặt trời và chuyển hoá thành nhiệt năng. Lượng nhiệt này sẽ làm nóng lượng nước có trong các ống thủy tinh chân không. Với nguyên lý: nước nóng có tỷ trọng nhỏ và nước lạnh có tỷ trọng lớn hơn, do đó nước lạnh đi xuống và nước nước sẽ đi lên tạo thành 1 vòng tuần hoàn luân chuyển tự nhiên giữa ống thủy tinh và bồn chứa nước. Quá trình như thế diễn ra liên tục cho đến khi nước trong bồn chứa đạt tới nhiệt độ cao nhất (80oC).

 PHƯƠNG PHÁP KẾT NỐI VỚI CÁC HỒ CHỨA


 

 

NGUYÊN TẮC THU NHIỆT CỦA HỆ THỐNG

 

 

PHƯƠNG PHÁP KẾT NỐI ĐẾN THIẾT BỊ SỬ DỤNG

 

III. MÔ HÌNH CẤU TẠO MÁY NƯỚC NÓNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI FORT POWER

bia 1 4 2017.jpg

1- CẤU TẠO:

Một máy nước nóng năng lượng mặt trời bao gồm 3 phần: collector thu nhiệt (ống thủy tinh chân không), bình chứa nước nóng và các phụ kiện kèm theo (giá đỡ, ống nối,...).

a) Bộ phận thu nhiệt (collector) Collector thu nhiệt có vai trò hết sức quan trọng.


 

 

 

Trước đây phổ biến là loại collector phẳng làm bằng kim loại (dạng ống cánh với ống bằng đồng và cánh bằng đồng hoặc nhôm). Gần đây, loại collector phẳng bằng nhựa (PP-R có độ dẫn nhiệt cao) và loại collector sử dụng ống thủy tinh 2 lớp rút chân không khá phổ biến. Như vậy là có 3 loại collector thu nhiệt: loại phẳng dạng ống cánh kim loại, dạng phẳng bằng nhựa và dạng ống chân không.

Collector của máy nước nóng có dạng ống thủy tinh 2 lớp rút chân không với hiệu suất rất cao (>93%) và tuổi thọ tương đối cao nếu sử dụng đúng cách. Giá thành cũng như chi phí thay thế ống rất rẻ, và ống có thể chịu đựng được sự va đập của các trận mưa đá lớn.

Lớp hấp thụ của ống được được sơn bằng công nghệ phun mạ do đó tính hấp thụ bức xạ mặt trời cao dẫn đến hiệu suất thu nhiệt của ống khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời rất cao (95%), hiệu suất phát xạ nhiệt khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời thấp 6%.

Nhược điểm duy nhất là địi hỏi nguồn nước cung cấp đảm bảo phải liên tục và có chất lượng tốt, nhằm tránh gây phá hủy các ống thu nhiệt do “sốc nhiệt” hay đóng bẩn sẽ làm giảm hiệu suất.

B - Bình bảo ôn: Cấu tạo gồm 3 lớp: Ruột bình, lớp bảo ôn và vỏ bình.

+ Ruột bình. Được chế tạo bằng thép không gỉ SUS304/2B dùng trong công nghệ thực phẩm và được hàn nối bằng phương pháp hàn cao tần do đó đảm bảo được thành phần của nước khi sử dụng không bị thay đổi do súc tác của nhiệt độ.

+ Lớp bảo ôn: Được làm từ hợp chất PolyUrethane bọt PU cách ly 55 mm phun đẩy áp lực cao. Trong điều kiện nhiệt độ ổn định cho phép cách nhiệt rất tốt và giữ được nhiệt độ rất lâu (khoảng 72 giờ); khả năng thất thoát nhiệt không đáng kể.

+ Vỏ bình: Làm bằng thép không gỉ, độ dầy tiêu chuẩn mang lại cho bình độ bền, đẹp, sử dụng tốt trong cả những môi trường khắc nghiệt (vùng ven biển, hải đải…).

C- Gía đỡ máy

  Làm bằng thép không gỉ 1.2mm định hình cao cấp rất bền-đẹp. Gía đỡ được thiết kế đặc biệt với góc nghiêng thích hợp giúp hấp thụ nhiệt tốt nhất tại mọi vị trí lắp đặt.

II. TÍNH HIỆU QUẢ KINH TẾ:

20729425_1413827592004342_8863685912878963206_n.jpg


 

SO SÁNH TÍNH NĂNG GIỮA MÁY NƯỚC NÓNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI
FORT POWER VÀ MÁY NƯỚC NÓNG ĐIỆN

 

 


HẠNG MỤC

MÁY NĂNG LƯỢNG

FORT POWER

MÁY ĐIỆN

1. Số người sử dụng 

4-5 (02 phòng tắm) 

4-5 (02 phòng tắm) 

2. Công suất sử dụng

50lít/người/ngày x 4 =200 lít

50lít/người/ngày x 4 =200 lít

3.Số phòng sử dụng

01 máy dùng cho nhiều phòng

01 máy/ 1 phòng

4. Nhiệt độ trung bình

650C 

650C

5.Chi phí sử dụng/tháng

Không

2,8 kw x 2 máy x1h x 1000đ x30 ngày =168.000 đ

6. Chi phí sử dụng/năm

Không 

168.000 x 12 tháng = 2.016.000 đ

7.Chi phí điện trong 15 năm 

Không 

30.240.000 đ

8. Rủi ro khi sử dụng 

Không 

Có nguy cơ giật điện, cháy nổ

9. Ảnh hưởng đến môi trường 

Không 

10. Bảo hành

5 năm

1 năm

11. Tuổi thọ của máy 

>15 năm

05 năm

12. Chi phí Đầu tư ban đầu

đầu 9.000.000/máy / 2 phòng 

2.000.000/máy x 2 phòng= 4.000.000

13. Chi phí đầu tư 10 năm kế tiếp

Không 

02 lần x 2 máy x 2.000.000= 8.000.000

14. Tổng chi phí trong 15 năm 

9 triệu 

42,24 triệu

15. Số tiền tiết kiệm trong 15 năm 

33,24 triệu

 

             Như vậy: Chỉ cần đầu tư 1 máy loại 200 lít cho hộ 4-5 người sử dụng, dùng cho 2 phòng tắm khác nhau .Sau 4 năm và 5 tháng sử dụng bạn đã hoàn toàn thu hồi vốn; và 10 năm 7 tháng sau đó sử dụng miễn phí. Tiết kiệm cho bạn một khoản chi phí sau thời gian sử dụng miễn phí là: 168.000 x 127 tháng = 21.336.000 (đồng).

Nội dung tin RSS

Logo Partners